Chuyên Gia Điều Trị Viêm Tai Giữa

THUỐC GIA TRUYỀN TRƯỜNG PHÁT ĐẶC TRỊ VIÊM TAI GIỮA (viêm tai mủ)

 THUỐC GIA TRUYỀN TRƯỜNG PHÁT ĐẶC TRỊ VIÊM TAI GIỮA (viêm tai mủ)               0936 520 969 - 01652 024 789

Các tác dụng phụ của kháng sinh

SKĐS - Giống như nhiều loại thuốc khác, các thuốc kháng sinh cũng có khả năng gây ra những tác dụng phụ cho người bệnh.
Có thể chia các tác dụng phụ này thành 3 loại chính: tác dụng phụ về mặt vi trùng học, phản ứng dị ứng, và tai biến do độc tính của kháng sinh.
Các rối loạn hệ vi khuẩn bình thường của người bệnh thường gặp sau khi dùng những kháng sinh phổ rộng, nhất là khi dùng qua đường uống (chloramphenicol). Các kháng sinh này tiêu hủy hệ vi khuẩn bình thường của đường ruột bệnh nhân, làm cho hệ vi khuẩn bình thường này bị thay thế bởi những vi khuẩn kháng thuốc (tụ cầu khuẩn, enterobacter, trực khuẩn mủ xanh) và nấm. Một số kháng sinh được thải qua mật, nên dù đã được dùng qua đường tiêm tĩnh mạch vẫn có thể gây ra rối loạn hệ vi khuẩn bình thường của đường ruột, ví dụ kháng sinh ceftriaxone, các kháng sinh nhóm lincosamid. Sự thay thế hệ vi khuẩn bình thường của đường ruột bởi những vi khuẩn kháng thuốc và nấm có thể dẫn đến những hậu quả như sau:
- Tiêu chảy kéo dài, đôi khi rất nặng nếu do tụ cầu khuẩn gây viêm ruột dạng lỵ hay do clostridium difficile gây viêm đại tràng màng giả.
- Bệnh nấm candida đường ruột.
- Thiếu vitamin nhóm B, vitamin K.
Để đề phòng tác dụng phụ này thì nên cho bệnh nhân dùng thuốc tái tạo hệ vi khuẩn bình thường của đường ruột như: antibio, biosubtyl, enterogermina sau một đợt trị liệu kháng sinh.
Tai biến do sự phóng thích một lượng lớn nội độc tố từ sự phân hủy một lượng lớn vi khuẩn sau một liều kháng sinh cao. Điển hình là: (1) phản ứng Jarisch-Herxheimer(sốt, lạnh run, nhức đầu, nhịp tim nhanh, tụt huyết áp nhẹ) khi điều trị giang mai; (2) phản ứng truỵ mạch khi dùng một liều chloramphenicol cao để điều trị bệnh thương hàn. Để đề phòng tai biến này là bắt đầu điều trị với liều kháng sinh thấp và tăng lên từ từ.
Phản ứng dị ứng
Bao gồm:
- Nổi mẩn ở da, đôi khi ở cả màng nhầy, có thể đi từ dạng nhẹ như ban đỏ, mày đay cho đến dạng rất nặng như hội chứng Lyell (sốt cao, da nổi bọng nước, viêm loét giác mạc).
- Phản ứng sốt, thường lầm với sốt do nhiễm trùng gây ra.
- Những phản ứng giống trong bệnh huyết thanh (sốt, nổi mẩn ở da, đau khớp, nổi hạch, khó thở, tiểu ra máu).
- Sốc phản vệ (nổi mày đay, mạch nhanh, huyết áp tụt kẹp, có thể tử vong).
- Tăng bạch cầu ưa toan trong máu.
Nguyên nhân là do sự mẫn cảm cao ở một số người bệnh. Sự xuất hiện các phản ứng này không phụ thuộc vào liều lượng kháng sinh được dùng. Các kháng sinh thường gây ra các phản ứng dị ứng là các penicillin và các sulfamide.

Tai biến do độc tính của kháng sinh

Các tai biến này đặc trưng cho một số kháng sinh. Chúng xuất hiện do kháng sinh tác động lên một số cấu trúc tế bào hoặc một số men của tế bào.Tần suất xuất hiện các tai biến do độc tính và mức độ nặng nhẹ của chúng phụ thuộc vào khoảng thời gian dùng kháng sinh và liều kháng sinh được dùng. Dùng kháng sinh liều cao và trong một khoảng thời gian dài thì khả năng xuất hiện tai biến cao và tai biến thường nặng. Các tai biến này bao gồm:
- Tai biến thận: viêm thận, suy thận. Hay gặp khi dùng sulfamide, aminoside, vancomycin.
- Tai biến ốc tai tiền đình (chóng mặt, giảm thính lực): do aminoside, vancomycin.
- Tai biến huyết học: thiếu máu do chloramphenicol, giảm bạch cầu hạt (sốt liên tục, nhiễm trùng) do các sulfamide.
- Tai biến gan (viêm gan, tăng men gan, hiếm gặp): khi dùng rifampicine, các sulfamide.
- Tai biến thần kinh (co giật): khi dùng penicillin liều cao, nhất là ở bệnh nhân suy thận.
- Tai biến cho thai nhi: nếu cho phụ nữ có thai dùng các kháng sinh có độc tính và có thể đi qua nhau thai được (aminoside, chloramphenicol, sulfamide) thì có nguy cơ làm hư hại các cơ quan của thai nhi.
- Tai biến cho trẻ sơ sinh: ở trẻ sơ sinh nhiều chức năng của cơ thể còn chưa hoàn chỉnh nên sự chuyển hóa các thuốc  nói chung cũng như kháng sinh nói riêng không giống như ở người lớn. Vì vậy, phải tránh dùng một số kháng sinh như: các sulfamide (nguy cơ vàng da), chloramphenicol (hội chứng gray), quinolon (nguy cơ toan máu).